Xét nghiệm công thức máu để làm gì?

Xét nghiệm máu các chỉ số WBC, Mono, Lym, hGB có ý nghĩa như thế nào?

Khi đi khám tổng thể hoặc xét nghiệm máu tổng quát người bệnh thường được bác sĩ trả về các kết quả Xét nghiệm máu chỉ số wbc, mono, lym, hgb và các chỉ số khác, vậy các chỉ số này đóng vai trò quan trọng như thế nào trong việc xét nghiệm & phát hiện ra những bệnh gì mà bạn đang mắc phải. Nội dung cụ thể về các chỉ số xét nghiệm máu từng thông số được giải đáp cụ thể sẽ giúp mọi người biết cách đọc kết quả XN.

Tìm hiểu về chỉ số xét nghiệm máu hgb là gì?

Chỉ số HGB là Nồng độ hemoglobin trong máu (đơn vị tính bằng g/l hay g/dl) hay còn được viết bởi chữu viết tắt Hb (Hemoglobin). Trong xét nghiệm máu, đo hàm lượng hemoglobin trong máu. Hemoglobin, hay haemoglobin, huyết sắc tố – là một protein phức tạp chứa phần tử sắt có khả năng thu nhập, lưu giữ và phóng thích ôxy trong cơ thể động vật hữu nhũ và một số động vật khác.

chỉ số xét nghiệm máu

Ở người khỏe mạnh bình thường, nồng độ hemoglobin trong hồng cầu luôn ở gần mức tối đa này. Tuy nhiên, khi chức năng tạo hemoglobin bị suy yếu, nồng độ này tụt giảm đáng kể, có thể làm thể tích hồng cầu giảm theo.

Nồng độ hemoglobin trong bào tương của hồng cầu có thể lên đến 34 g/dL tế bào. Đó là nồng độ tối đa không làm rối loạn chức năng tạo hemoglobin trong hồng cầu.

Thuật ngữ hemoglobin là sự kết hợp của heme và globin, để cho thấy rằng mỗi đơn vị con của hemoglobin là một protein cấu trúc hình cầu với nhóm heme (hay haem) đính kèm; mỗi nhóm heme chứa một phân tử sắt, và nó đảm nhiệm cho việc gắn kết với ôxy. Các loại hemoglobin chung nhất đều chứa bốn đơn vị con, mỗi đơn vị kèm theo một nhóm heme.

Liên quan truyền máu (Viện Huyết học TW):

  • Trên 10 g/dl: thiếu máu nhẹ, không cần truyền máu.
  • Từ 8-10 g/dl: thiếu máu vừa, cân nhắc nhu cầu truyền máu.
  • Từ 6-8 g/dl: thiếu máu nặng, cần truyền máu.
  • Dưới 6 g/dl: cần truyền máu cấp cứu.
  • Chỉ số => < 7g: cần truyền máu/XHTH.

Đột biến về gen với hemoglobin dẫn tới một nhóm các bệnh di truyền gọi là hemoglobinopathies, trong đó phổ biến nhất là bệnh tế bào hình liềm (sickle-cell disease) và thalassemia.

Giá trị bình thường của hemoglobin tùy thuộc vào tuổi tác và giới tính (đối với người trưởng thành). Giá trị bình thường của hemoglobin là:

Chỉ số Hemoglobin ở trẻ em bao nhiêu là bình thường?

  • Sơ sinh: 7 – 22 g/dl
  • 1 tuần tuổi: 15 – 20 g/dl
  • 1 tháng tuổi: 11 – 15 g/dl
  • Trẻ em: 11 – 13 g/dl

hemoglobin ở người trưởng thành bình thường là bao nhiêu?

  • Nam: 14 – 18 g/dl
  • Nữ: 12 – 16 g/dl

hemoglobin bao nhiêu ở người già là ổn?

  • Nam: 12.4 – 14.9 g/dl
  • Nữ: 11.7 – 13.8 g/dl

Tất cả những giá trị trên có thể thay đổi chút ít tùy thuộc vào phòng xét nghiệm. Một số phòng xét nghiệm không tách những người trưởng thành và những người sau tuổi trung niên ra thành 1 nhóm khác nhau.

Chỉ số wbc là gì?

Chỉ số WBC là một chỉ số cho biết số lượng bạch cầu có trong một đơn vị máu, chữ WBC được viết tắt của từ White BLood Cells. Giá trị bình thường của thông số này là 4000-10000 bạch cầu/mm³ (trung bình khoảng 7000 bạch cầu/mm³ máu;

  • Tăng: nhiễm trùng, nhiễm độc, viêm, mất máu nhiều, sau ăn no, sau hoạt động (vì vậy không nên lấy máu thử lúc này). Số lượng bạch cầu tăng cao trong các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính, và đặc biệt cao trong các bệnh bạch huyết cấp hoặc mãn tính (ung thư máu – leucemie). WBC> 10.000 => tăng thật sự
  • Giảm: do thuốc, sốt rét, thương hàn, bệnh do virus: viêm phổi không điển hình, thủy đậu, cúm..
    WBC < 5.000 => giảm có thể hồi phục; WBC< 4.000 => giảm, khả năng hồi phục thấp: có bệnh lý..)
  • Công thức bạch cầu: là tỷ lệ phần trăm các loại bạch cầu trong máu. Sự thay đổi tỷ lệ này cho nhiều ý nghĩa quan trọng. Cần tính ra số lượng tuyệt đối của mỗi loại (vì có khi tỉ lệ phần trăm giảm nhưng số lượng tuyệt đối lại bình thường nếu tổng số bạch cầu tăng – hay ngược lại)

Chỉ số NEUTROPHIL là gì?

Chỉ số NEUTROPHIL là Bạch cầu trung tính, đây là những tế bào trưởng thành ở trong máu tuần hoàn và có một chức năng quan trọng là thực bào, chúng sẽ tấn công và phá hủy các loại vi khuẩn, virus ngay trong máu tuần hoàn khi các sinh vật này vừa xâm nhập cơ thể. Vì vậy bạch cầu đa nhân trung tính tăng trong các trường hợp nhiễm trùng cấp. Đôi khi trong trường hợp nhiễm trùng quá nặng như nhiễm trùng huyết hoặc bệnh nhân suy kiệt, trẻ sơ sinh, lượng bạch cầu này giảm xuống. Nếu giảm quá thấp thì tình trạng bệnh nhân rất nguy hiểm vì sức chống cự vi khuẩn gây bệnh giảm sút nghiêm trọng. Bạch cầu cũng giảm trong những trường hợp nhiễm độc kim loại nặng như chì, arsenic, khi suy tủy, nhiễm một số virus…

Nếu tăng > 75% ( > 7.000 / mm3 )

  • Các bệnh nhiễm khuẩn cấp tính: viêm phổi, viêm túi mật..
  • Các quá trình sinh mủ: apxe, nhọt..
  • Nhồi máu cơ tim, Nhồi máu phổi
  • Các bệnh gây nghẽn mạch
  • Bệnh Hogdkin, bệnh bạch cầu
  • Sau bữa ăn, vận động mạnh ( tăng ít – tạm thời ).
  • Giảm < 50% ( < 1.500/ mm3 ): + Nhiễm trùng tối cấp + Các bệnh do virus trong thời kỳ toàn phát: cúm, sởi, thủy đậu.. + Sốt rét
  • Các bệnh có lách to gây cường lách, Hogdkin + Thiếu B12 ác tính ( bệnh Biermer ) + Nhiễm độc thuốc, hóa chất + Sốc phản vệ +

Giảm sản hay suy tủy xương + Bạch cầu cấp, Bạch cầu kinh thể lympho.

Chỉ số EOS trong xét nghiệm máu là gì?

Chỉ số EOS trong xét nghiệm máu là Bạch cầu đa nhân ái toan. Bạch cầu đa nhân ái toan có khả năng thực bào yếu nên không đóng vai trò quan trọng trong các bệnh nhiễm khuẩn thông thường. Bạch cầu này tăng cao trong các trường hợp nhiễm ký sinh trùng, vì bạch cầu này tấn công được ký sinh trùng và giải phóng ra nhiều chất để giết ký sinh trùng. Ngoài ra bạch cầu này còn tăng cao trong các bệnh lý ngoài da như chàm, mẩn đỏ trên da… Tăng: > 500/ mm3

Nếu chỉ số tăng nhẹ & thoáng qua:

  • Thời kỳ lui bệnh của một số bệnh nhiễm khuẩn, nhất là sau khi điều trị kháng sinh
  • Khi điều trị hồng cầu thiếu máu bằng các tinh chất gan.

Nếu chỉ số tăng cao & liên tục:

  • Các bệnh giun sán
  • Các trạng thái dị ứng: hen, chàm, mẫn ngứa, bệnh lý huyết thanh, hội chứng Loeffler
  • Leucemie tủy thể bạch cầu đa nhân ái toan, bệnh Hogdkin
  • Bệnh chất tạo keo
  • Sau thủ thuật cắt bỏ lách
  • Sau chiếu tia X.

Khi chỉ số này giảm: < 25/ mm3.

  • Suy tủy bị tổn thương hoàn toàn
  • Nhiễm khuẩn cấp tính, quá trình sinh mủ cấp tính
  • Hội chứng Cushing, trạng thái sốc điều trị bằng Corticoide.

bạch cầu đa nhân ái kiềm là gì?

Bạch cầu đa nhân ái kiềm là chỉ số BASOPHIL, đóng vai trò quan trọng trong một số phản ứng dị ứng.

Nếu chỉ số này tăng:

  • Bệnh Leucmie mạn tính: càng tăng – tiên lượng càng tốt
  • Bệnh tăng hồng cầu Vaquez
  • Sau tiêm huyết thanh hay các chất albumin
  • Trong vài trạng thái do thiếu máu tan máu, BC đa nhân ái kiềm tăng 2 – 3%.

Khi chỉ số này giảm:

  • Tủy xương bị tổn thương hoàn toàn
  • Dị ứng.

Mono là gì?

Mono trong máu là dạng chưa trưởng thành của đại thực bào trong máu vì vậy chưa có khả năng thực bào. Đại thực bào là những tế bào có vai trò bảo vệ bằng cách thực bào, khả năng này của nó mạnh hơn của bạch cầu đa nhân trung tính. Chúng sẽ phân bố đến các mô của cơ thể, tồn tại tại đó hàng tháng, hàng năm cho đến khi được huy động đi làm các chức năng bảo vệ. Vì vậy mono bào sẽ tăng trong các bệnh nhiễm khuẩn mãn tính như lao, viêm vòi trứng mãn…

Chỉ số Mono bào tăng có ý nghĩa gì?

  • Bệnh do virus: cúm, quai bị, viêm gan
  • Thời kỳ lui bệnh của một số bệnh nhiễm khuẩn: viêm nội tâm mạc bán cấp (Osler), lao..
  • Sốt rét
  • Bệnh chất tạo keo
  • Chứng mất BC hạt do nhiễm độc dị ứng
  • Một số bệnh ác tính: K đường tiêu hoá, bệnh Hogdkin, u tuỷ, bạch cầu cấp dòng mono.

Chỉ số lym là gì?

Chỉ số Lym là những tế bào có khả năng miễn dịch của cơ thể, chúng có thể trở thành những tế bào “nhớ” sau khi tiếp xúc với tác nhân gây bệnh và tồn tại lâu dài cho đến khi tiếp xúc lần nữa với cùng tác nhân ấy, khi ấy chúng sẽ gây ra những phản ứng miễn dịch mạnh mẽ, nhanh và kéo dài hơn so với lần đầu. Đây là chữu viết tắt của chữ LYMPHOCYTE hay còn gọi là Lympho bào. Lympho bào tăng trong ung thư máu, nhiễm khuẩn máu, nhiễm lao, nhiễm virus như ho gà, sởi… Giảm trong thương hàn nặng, sốt phát ban…

Tăng > 30% (> 4.000/ mm3)

  • Bạch cầu cấp thể lympho
  • Nhiễm khuẩn mạn tính: lao, thấp khớp..
  • các bệnh do virus: sởi, ho gà, viêm gan siêu vi..
  • trong thời kỳ lui bệnh của một số bệnh nhiễm khuẩn cấp tính.
  • Giảm: < 15% ( < 1.000/ mm3 ).
  • một số bệnh nhiễm trùng cấp tính
  • chứng mất bạch cầu hạt, sốc phản vệ..
  • bệnh Hogdkin, nhất là trong giai đoạn sau
  • Bạch cầu cấp (trừ thể lympho)
  • các bệnh tự miễn, tạo keo
  • điều trị thuốc Ức chế miễn dịch, hóa chất trị K.

Nếu Mono & Lym cùng tăng

  • do virus: cúm, quai bị, sởi
  • thương hàn.

Chỉ số plt trong xét nghiệm máu ý nghĩa là gì?

Chỉ số PLT trong xét nghiệm máu là chỉ số lượng tiểu cầu. Số lượng tiểu cầu cho biết số lượng tiểu cầu có trong một đơn vị máu. Số lượng tiểu cầu bình thường là 150.000-400.000 tiểu cầu/mm³ máu.

Tiểu cầu có đời sống 8-12 ngày. Đổi mới sau 4 ngày.

Là những mảnh vỡ hình đĩa mỏng, không nhân, từ tế bào chất của những tế bào megakaryocyte được tìm thấy trong tủy xương.

Bình thường tiểu cầu trôi tự do theo dòng máu. Khi mạch máu bị đứt, những sợi colagen ở dưới lớp biểu mô bị bộc lộ và tiểu cầu sẽ kết dính tụ lại chỗ mạch đứt (do thành mạch mất điện âm không đẩy tiểu cầu nữa). Tiếp đó, những tiểu cầu đang lưu thông sẽ đến kết tụ vào đó và kéo theo sự kết tụ của lớp tiểu cầu thứ 3, thứ 4… cho đến khi hình thành nút tiểu cầu (còn gọi đinh cầm máu Hayem) bịt kín chỗ tổn thương.

Tiểu cầu có vai trò quan trọng trong quá trình đông cầm máu, vì vậy Suy giảm tiểu cầu về mặt số lượng hoặc chất lượng sẽ gây ra bệnh sinh chảy máu. Khi số lượng tiểu cầu giảm dưới 100.000/mm³ hay có xuất huyết, dưới 100.000/mm³ xuất huyết nặng dẫn đến tử vong

  • Tăng tiểu cầu (>500.000/mm³): Hội chứng tăng sinh tủy, thiếu máu thiếu sắt, sau cắt lách, tăng do phản ứng sau một số bệnh lý: ung thư di căn tủy xương, u thận, u gan…
  • Tăng tiểu cầu giả tạo: do máy đếm nhầm thành TC bởi: Mảnh hồng cầu vỡ hoặc hồng cầu kích thước quá nhỏ (MCV < 65 fl). Mẫu máu lẫn bụi bẩn. Máy nối đất không tốt gây hiện tượng nhiễu nên các xung điện nhỏ sẽ được máy ghi nhận là các tiểu cầu.
  • Giảm: Giảm sản xuất (suy tủy xương, bệnh máu ác tính lấn át, ung thư di căn tủy xương, xuất huyết giảm tiểu cầu miễn dịch/ITP), tăng tiêu thụ (xuất huyết giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu tiêu thụ).

Đa số các trường hợp tăng sử dụng tiểu cầu dẫn đến hoạt hóa tiểu cầu, một số có liên quan đến huyết tắc. Với nhiệm vụ tạo ra vón cục máu (Clot), TC tích tụ phía trên mảng thành một khối cứng bao quanh vành động mạch, gây ra chứng huyết khối (Thrombus), huyết khối tích tụ lâu ngày sẽ dày làm bít đường kính của động mạch và làm tắc nghẽn hoàn toàn. Bao gồm:

  • Thiếu máu giảm tiểu cầu do hủy tiểu cầu/TTP
  • Hội chứng tán huyết – tăng urê huyết/HUS
  • Tiểu hemoglobin cực điểm về đêm/PNH
  • Đông máu nội mạch lan tỏa/DIC
  • Giảm tiểu cầu do heparin/HIT.
  • Giảm tiểu cầu giả tạo có thể gặp do:
  • Tiểu cầu tăng kết dính: lấy máu quá lâu làm hoạt hóa tiểu cầu, lấy mẫu vào ống thủy tinh làm tiểu cầu kết dính do thành ống làm hoạt hóa và kết dính tiểu cầu.
  • Tiểu cầu tập trung xung quanh bạch cầu…

chỉ số xét nghiệm máu hgb là gì, chỉ số wbc trong xét nghiệm máu là gì, chỉ số mono trong máu là gì, chỉ số lym trong máu là gì, chỉ số xét nghiệm máu plt là gì

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *